0

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự

Chúng tôi có nhiều năm kinh nghiệm tham gia tố tụng từ giai đoạn bị bắt giữ, bị khởi tố, truy tố, xét xử chúng tôi giúp cho thân chủ, bị can, bị cáo bào chữa minh oan, giảm nhẹ hình phạt, đảm bảo tốt nhất cho quyền và lợi ích của thân chủ, bị can, bị cáo.

1. Nội dung dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật hình sự:

– Tư vấn và giúp khách hàng tìm các chứng cứ ngoại phạm hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự, lỗi trong Tố tụng hình sự qua đó nhằm minh oan hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

– Tư vấn và giúp khách hàng nhận thức rõ được quyền và nghĩa vụ của họ trong điều kiện, hoàn cảnh thực tại,  hướng dẫn khách hàng khai khi bị hỏi cung trước các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc trước phiên Tòa tránh tình trạng bị ép cung, mớm cung, dụ cung nhằm minh oan, miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

– Tư vấn và hướng dẫn khách hàng lập thủ tục bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm để khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra cho người khác trong trường hợp gia đình người bị hại đồng ý hoặc không đồng ý nhận bồi thường.

– Tư vấn cho khách hàng và soạn thảo các văn bản trong quá trình tiếp nhận vụ án như:

Đơn xin bảo lãnh tại ngoại;

Đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can, bị cáo;

Đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự …

Pháp luật hình sự quy định về trách nhiệm của cá nhân đối với nhà nước về hành vi nguy hiểm của mình đối với xã hội. Hình phạt trong luật hình sự luôn có sức răn đe cao đối với mọi hành vi phạm tội. Văn phòng Luật sư Thoại Khánh cung cấp dịch vụ luật sư tranh tụng và dịch vụ luật sư tư vấn luật hình sự. Qua kênh tư vấn trực tuyến tại website Luatsuthoaikhanh.com.vn Văn phòng luật sư Thoại Khánh tư vấn và hỗ trợ tất cả các đối tượng là cá nhân, tổ chức trên phạm vi cả nước không có điều kiện về thời gian, bị cản trở địa lý…đều có thể trao đổi với luật sư mọi lúc, mọi nơi. Ngoài ra quý khách hàng có thể đặt lịch gặp gỡ luật sư tư vấn trực tiếp tại văn phòng Luật sư Thoại Khánh. Nội dung tư vấn cụ thể như sau:

1.  Luật sư tư vấn quy định pháp luật về tội phạm và các nội dung khác liên quan đến tội phạm (tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng); tư vấn quy định về Đồng phạm, che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm…;

2.  Tư vấn quy định pháp luật về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, tư vấn những trường hợp không áp dụng miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.

3.  Tư vấn quy định pháp luật hình sự về hình phạt, các hình phạt cụ thể và các nội dung khác liên quan đến hình phạt, tư vấn quy định pháp luật hình sự về quyết định hình phạt và vấn đề liên quan.

4.  Tư vấn về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời gian chấp hành hình phạt, tư vấn quy định pháp luật về xóa án tích và các quy định liên quan.

5.  Tư vấn quy định pháp luật đối với trường hợp người chưa thành niên phạm tội.

6.  Tư vấn quy định và hướng dẫn về các tội phạm cụ thể:

– Tư vấn quy định pháp luật về tội xâm phạm an ninh quốc gia (Tội phản bội Tổ quốc, Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, Tội gián điệp, Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ…);

– Tư vấn quy định pháp luật về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (Tội giết người, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, Tội hành hạ người khác, Tội hiếp dâm, Tội mua bán người…);

– Tư vấn quy định pháp luật về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân (Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, Tội xâm phạm chỗ ở của công dân, Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác…);

– Tư vấn quy định pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu (Tội cướp tài sản, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Tội trộm cắp tài sản, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản…);

– Tư vấn quy định pháp luật về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình (Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật, Tội loạn luân, Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng…);

– Tư vấn quy định pháp luật pháp luật về các tội xâm phậm trật tự quản lý kinh tế (Tội buôn lậu, Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả, Tội kinh doanh trái phép, Tội đầu cơ, Tội trốn thuế…);

– Tư vấn quy định pháp luật về các tội phạm liên quan đến môi trường (Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản, Tội hủy hoại rừng…);

– Tư vấn quy định pháp luật về các tội phạm về ma túy (Tội sản xuất trái phép chất ma túy, Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý, Tội sử dụng trái phép chất ma túy…);

– Quy định về các tội phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, Tội tổ chức đua xe trái phép…);

– Quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính (Tội chống người thi hành công vụ, Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự, Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức…);

– Quy định về các tội phạm về chức vụ (Tội nhận hối lộ, Tội tham ô tài sản, Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi…)

– Tư vấn các quy định pháp luật về tội phạm khác.

Phương châm phục vụ khách hàng: ” Dịch vụ pháp lý hoàn hảo – Địa điểm pháp lý tin cậy của khách hàng”, mọi thắc mắc pháp lý sẽ được luật sư giàu kinh nghiệm của Văn phòng Luật sư Thoại Khánh giải đáp tận tình và trách nhiệm.

Rất mong được sự hợp tác, quan tâm, góp ý của quý khách hàng, cá nhân, tổ chức, Văn phòng Luật sư Thoại Khánh sẽ ngày càng nâng cao chất lượng tư vấn pháp luật, đem đến cho quý khách hàng dịch vụ pháp lý hoàn hảo nhất.

2. Liên hệ sử dụng dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật hình sự:

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ THOẠI KHÁNH

Gửi thư yêu cầu dịch vụ qua Email:  luatsuthoaikhanh@gmail.com

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

 

0

Nghị quyết 110/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự và Luật thi hành tạm giữ, tạm giam

Để kịp thời triển khai thực hiện một số nội dung mới có liên quan đến Bộ luật hình sự 2015, Nghị quyết 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật hình sự; Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết 110/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự và Luật thi hành tạm giữ, tạm giam.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp thực hiện ngay các công việc sau:

1. Về áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam và thời hạn tạm giữ, tạm giam

Viện kiểm sát các cấp phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra, Toà án cùng cấp tiến hành rà soát đầy đủ, chính xác các tr­ường hợp đang áp dụng biện pháp tạm giam với thời hạn theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003, nhưng đến ngày 01/7/2016 không được tạm giam theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015 hoặc thời hạn tạm giam vượt quá thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 để đẩy nhanh tiến độ, sớm kết thúc vụ án.

(Điều 173: Thời hạn gia hạn tạm giam đối với tội phạm nghiêm trọng ngắn hơn 01 tháng, tội phạm rất nghiêm trọng ngắn hơn 02 tháng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng ngắn hơn 04 tháng; Điều 419: Thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi bằng 2/3 thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên…).

Đến ngày 30/6/2016 chưa giải quyết xong, thì Viện kiểm sát quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam; Nếu thuộc thẩm quyết giải quyết của Tòa án thì yêu cầu Tòa án hủy bỏ biện pháp tạm giam hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Đối với các trường hợp tạm giữ, nếu xét thấy không có căn cứ thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

Đối với các trường hợp tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì phải kịp thời yêu cầu Cơ quan điều tra đề nghị hoặc Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm giam.

Cần lưu ý việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi và chỉ áp dụng trong trường hợp thật cần thiết.

Khi nhận được quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam; quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam thì cơ quan, người có thẩm quyền trong việc tạm giữ, tạm giam phải chấp hành ngay.

2. Kiểm sát việc thông báo sắp quá hạn tạm giữ, tạm giam

Viện kiểm sát các cấp phải quản lý chặt chẽ số liệu người đang bị tạm giữ, tạm giam sắp hết thời hạn để kiểm sát việc thông báo bằng văn bản của nhà tạm giữ, trại tạm giam theo Điểm d, Khoản 1 Điều 7, Điểm d, Khoản 1 Điều 11 Quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định 89/1998/NĐ-CP; Điểm h Khoản 1 Điều 13 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam (từ ngày 01/7/2016). Nếu phát hiện nhà tạm giữ, trại tạm giam không thông báo theo đúng quy định thì lập ngay biên bản vi phạm và kháng nghị, kiến nghị yêu cầu thực hiện theo quy định.

Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, kịp thời thông báo để giải quyết những trường hợp đang bị tạm giữ, tạm giam sắp hết thời hạn giam, giữ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; khắc phục ngay tình trạng quá hạn tạm giữ, tạm giam; đặc biệt các trường hợp quá hạn tạm giam thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát.

Để khắc phục việc giam, giữ quá hạn, trước khi hết thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ 01 ngày, trước khi hết thời hạn tạm giam 02 ngày, trước khi hết thời hạn gia hạn tạm giam 03 ngày, Viện  kiểm sát phối hợp với nhà tạm giữ, trại tạm giam, Cơ quan điều tra, Tòa án để kiểm tra việc giải quyết các trường hợp sắp hết thời hạn đã được nhà tạm giữ, trại tạm giam thông báo, nếu chưa giải quyết thì yêu cầu giải quyết ngay.

Trong văn bản yêu cầu phải nêu rõ hết thời hạn tạm giữ, tạm giam mà cơ quan có thẩm quyền không giải quyết thì người đang bị tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn sẽ được trả tự do theo quy định pháp luật.

Mọi hậu quả xảy ra (nếu có) như: Người bị tạm giữ, tạm giam trốn, tiếp tục phạm tội, cản trở công tác điều tra, truy tố, xét xử… thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Đối với những trường hợp quá hạn tạm giữ, tạm giam do chậm gửi các lệnh, quyết định tạm giữ, tạm giam, Kiểm sát giam giữ cần xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, cá nhân; tùy theo tính chất, mức độ vi phạm để kháng nghị, kiến nghị yêu cầu xử lý vi phạm.

3. Về việc trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam

Kể từ ngày 01/7/2016, khi đã hết thời hạn tạm giữ, tạm giam thì người bị tạm giữ, tạm giam phải được trả tự do ngay, nếu họ không bị giam, giữ về một hành vi vi phạm pháp luật khác.

Trường hợp xét thấy cần thiết thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Đến ngày cuối cùng của thời hạn tạm giữ, tạm giam theo Bộ luật tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải tiến hành kiểm sát, nếu cơ quan có thẩm quyền không giải quyết thì ra văn bản yêu cầu cơ sở giam giữ trả tự do ngay cho người đang bị tạm giữ, tạm giam trong trường hợp trong lệnh, quyết định tạm giữ, tạm giam ghi rõ: Hết thời hạn tạm giữ, tạm giam này, cơ sở giam giữ có trách nhiệm trả tự do cho người đang bị tạm giữ, tạm giam.

Trong văn bản yêu cầu nêu rõ: Cơ sở giam giữ không trả tự do ngay cho người đang bị tạm giữ, tạm giam là vi phạm pháp luật và chịu hoàn toàn trách nhiệm với những hậu quả có thể xảy ra.

Viện kiểm sát các cấp cần khắc phục việc lạm dụng, làm thay cho cơ quan khác khi vận dụng Khoản 2 Điều 22, Khoản 2 Điều 25 để trả tự do cho người đang bị giam, giữ đúng ngày hết thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Ngày kế tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn giam, giữ phải kiểm tra, nếu cơ sở giam giữ chưa trả tự do, thì lập biên bản vi phạm về việc tạm giữ, tạm giam người không có lệnh, quyết định của cơ quan có thẩm quyền và căn cứ Khoản 2 Điều 22 Luật tổ chức VKSND để trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, tạm giam. Đồng thời, kháng nghị, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ quan, cá nhân có liên quan để xảy ra vi phạm pháp luật.

Kể từ ngày 01/7/2016, vi phạm trong việc: Không ra quyết định trả tự do cho người được trả tự do; bắt, giữ, giam người không có căn cứ; không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do; thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định theo quy định của luật hoặc tuy có lệnh, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành và không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn phải được xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 377 Bộ luật hình sự 2015. Đồng thời, người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù phải được xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 378 Bộ luật hình sự 2015.

4. Kiểm sát việc thi hành án hình sự

Viện kiểm sát các cấp phối hợp chặt chẽ với Cơ quan thi hành án hình sự, Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, Toà án cùng cấp rà soát đầy đủ, chính xác và kiểm sát chặt chẽ việc miễn chấp hành hình phạt còn lại hoặc miễn toàn bộ hình phạt đối với những trường hợp quy định tại điểm d, đ Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 109/2015/QH13 theo hướng dẫn tại tiểu mục 5 Mục I Hướng dẫn 172/VKSTC-V14 ngày 18/01/2016 và hướng dẫn tại Mục 4 Công văn 326/TANDTC-PC ngày 31/12/2015.

Viện kiểm sát cấp tỉnh phối hợp chặt chẽ với trại giam đóng tại địa phương, Cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp rà soát và kiểm sát việc đề nghị miễn chấp hành hình phạt còn lại cho người đang chấp hành hình phạt tù, hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của Quân đội.

Rà soát đầy đủ, chính xác các trường hợp bị xử phạt tù, xử phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của Quân đội đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, đang được hoãn hoặc chưa chấp hành hình phạt đề nghị Chánh án Tòa án cùng cấp miễn chấp hành hình phạt.

Viện kiểm sát cấp huyện phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú hoặc quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân hoặc xử phạt bằng các hình phạt khác rà soát và kiểm sát việc đề nghị hoặc đề nghị Chánh án Tòa án cùng cấp miễn chấp hành hình phạt còn lại hoặc toàn bộ hình phạt.

1 2 3
0907 773 779